1, Cho vay tiêu dùng là gì?
Trước tiên, xét về cơ sở để tiến hành cho vay tiêu dùng ta căn cứ trên 2 giác độ:
– Trên giác độ người tiêu dùng, nhu cầu vay tiêu dùng càng ngày càng gia tăng mạnh mẽ gắn liền với nhu cầu về hàng tiêu dùng lâu bền càng được mở rộng (nhà cửa, phương tiện đi lại, nội thất hay nhu cầu du lịch). Đồng thời, người tiêu dùng có thu nhập ổn định để trả nợ ngân hàng. Khi mức thu nhập đạt tới mức khá hoặc cao, người tiêu dùng có xu hướng muốn nâng cao mức sống của mình (tiêu dùng các mặt hàng tốt chất lượng cao, ăn ngon, mặc đẹp, cuộc sống đầy đủ tiện nghi, hiện đại) hay là tăng khả năng được đào tạo bản thân để giúp mình có nhiều cơ hội tìm kiếm công việc với mức thu nhập cao hơn hiện tại.

Tham khảo thêm các bài viết khác của Luận Văn Việt:
+ công thức tính thời gian hoàn vốn có chiết khấu
+ các bước làm bài tiểu luận
+ khái niệm tự doanh chứng khoáng
– Trên giác độ ngân hàng, nhiều doanh nghiệp, tổ chức tự tài trợ chủ yếu bằng phát hành cổ phiếu và trái phiếu, nhiều công ty tài chính cạnh tranh với ngân hàng trong cho vay làm thị phần cho vay các doanh nghiệp của ngân hàng bị giảm sút. Điều này đã buộc chính ngân hàng phải mở rộng thị trường cho vay tiêu dùng để tăng thu nhập.
Vậy cho vay tiêu dùng là gì? Cho vay tiêu dùng là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá nhân hộ gia đình. Các khoản vay tiêu dùng là nguồn tài trợ chính quan trọng giúp cho người tiêu dùng có thể trang trải cho nhu cầu trong cuộc sống: nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch…trước khi họ có đủ khả năng tài chính để hưởng thụ.
2, Đặc điểm của cho vay tiêu dùng là gì?
– Đối tượng của các khoản cho vay tiêu dùng là các cá nhân, hộ gia đình. Nhu cầu vay của họ phụ thuộc vào tình hình tài chính. Đối với các cá nhân, hộ gia đình có mức thu nhập thấp thì nhu cầu tín dụng thường không cao, chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu gia đình tạo sự cân đối giữa thu nhập và chi tiêu.
Đối với cá nhân, hộ gia đình có mức thu nhập trung bình thì nhu cầu tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh do ý muốn vay mượn để mua hàng tiêu dùng lớn hơn khoản tiền dự phòng của mình. Đối với những người có mức thu nhập cao thì nhu cẩu tín dụng tiêu dùng nảy sinh nhằm tăng thêm khả năng thanh toán hoặc một khoản tài trợ rất linh hoạt trong chi tiêu khi mà nguồn vốn của họ đã nằm trong tài khoản đầu tư.
Đồng thời, những cá nhân và hộ gia đình này phải là những người có đầy đủ năng lực pháp lý và mục đích vay rõ ràng. Mục đích vay của khách hàng phải phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của họ, như: xây dựng hoặc sửa chữa nhà cửa, mua sắm vật dụng gia đình…
– Một khoản vay tiêu dùng có tính chu kỳ: Nhu cầu cho vay tiêu dùng của khách hàng không chỉ phụ thuộc vào tình hình tài chính mà còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế vào những giai đoạn cụ thể.
– Chi phí một khoản vay tiêu dùng cao: Khoản cho vay tiêu dùng thường không lớn trong khi ngân hàng lại tốn rất nhiều thời gian và nhân lực để điều tra thu thập thông tin của khách hàng vay tiền. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng phải quản lý các khoản cho vay nhỏ lẻ chiếm khối lượng khá lớn. Do đó, chi phí cho vay tiêu dùng có lãi suất thường lớn hơn cho vay thương mại.
– Lãi suất của khoản vay tiêu dùng cao và khá cứng nhắc. Lãi suất của một khoản vay tiêu dùng là lãi suất cố định. Khách hàng kém nhạy bén với lãi suất, họ chỉ quan tâm đến khoản lãi phải trả hàng tháng hơn là lãi suất ghi trên hợp đồng. Tuy nhiên, lãi suất không phải là yếu tố quan trọng để cá nhân, hộ gia đình quan tâm khi quyết đinh vay nhiều hay ít.
– Nguồn trả nợ của khách hàng có thể biến động lớn: Khi khoản vay để kinh doanh, nguồn trả nợ là kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi khoản vay để tiêu dùng, đó là khoản thu nhập của khách hàng.
– Rủi ro cao do chất lượng thông tin tài chính của khách hàng thường không cao, khách hàng gian lận hay rủi ro về lãi suất khi chi phí huy động vốn tăng lên.
Trên phương diện rủi ro lãi suất, ta biết lãi suất “cứng nhắc” được áp dụng cho các khoản vay tiêu dùng trong khi các khoản cho vay kinh doanh hiện nay thường áp dụng lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường. Do đó, một sự tăng lên trong chi phí huy động vốn ngân hàng cúng sẽ gặp rủi ro lãi suất.
– Quy mô của các khoản vay tiêu dùng thường nhỏ lẻ nhưng số lượng các khoản vay tiêu dùng này lại rất lớn.